Chủ nhật, ngày 01 tháng mười một năm 2009

Phút lãng đãng


Nắng lúng liếng rải sắc vàng lên những khối nhà bê tông cao tầng.Đã cuối thu rồi thì phải? Khái niệm mùa dường như không còn nữa trong cái náo nhiệt, năng động của nhịp sống Sài thành. Bình minh vội vàng đến để rồi hoàng hôn cũng vội vã trôi đi, nắng dù màu gì cũng mau rơi lại nhường chỗ cho màn đêm. Và, đêm cũng ồn ào, tấp nập. Cứ thế, có một vòng chảy vô hình cứ cuốn phăng đi những cảm xúc chưa kịp lắng lại. Bỗng chiều nay, ta bị nắng níu chân…

Hình như, trong nắng có tiếng hạ hời của thời gian khơi về những kỉ niệm cũ tưởng chừng đã rớt lại cùng năm tháng. Ta chợt thấy mình là đứa bé con ngồi nghịch ánh vàng len qua ô cửa, dõi ánh mắt nhìn ra khung trời rộng mà chờ mẹ tan sở, mang theo vòng tay ấm áp. Ta cũng nghe thấy tiếng xào xạc của cây xoài cổ thụ khiến những ô nắng đâm xiên qua tán lá cũng nhảy nhót theo tiếng cười giòn tan của đám trẻ bắn bi giữa sân nhà. Ta còn nhớ nắng vàng mời gọi ta cùng tóe nước sau cơn mưa rào cuối hạ, ngắm những giọt nước còn đọng lại trên hàng hiên mái ngói rơi xuống sóng sánh cả khoảng nước trước nhà. Và hình như, có cả hương nhãn thoang thoảng cài lên tóc của cô bạn từ phương xa trở về, làm tâm hồn của cậu bé vừa bước qua tuổi thơ xao động giữa những tia nắng tươi vui.

Chiều nay, ta và nắng thành hai người bạn, nắng kéo ùa về cả tuổi thơ. Ta thấy lòng nhẹ nhõm. Đi trong nắng ta tìm lại mình của những ngày xưa. Phải chăng nắng đang thì thầm nhủ rằng ta ơi lắng lại một khắc đề thấy cuộc sống luôn lung linh sắc màu, nghỉ lại một nhịp để cảm nhận những yêu thương. Phía cuối chân trời mặt trời đang tắt dần, nắng lặng lẽ chia tay ta nhưng ta tin rằng nắng ngày mai cũng như nắng của hôm nay và nắng cùa kí ức, vẹn nguyên không bao giờ thay đổi.

Saigon, một ngày nắng đẹp
Khắc Huy.

Thứ sáu, ngày 17 tháng bảy năm 2009

“Kiếp nào có yêu nhau” hay bản tình ca muôn kiếp


Đắm chìm trong đau khổ của tạo diệt kiếp người, cuống phổi của nhân quần bỗng bật lên, ngân lên những thanh âm tha thiết, đó chính là chất liệu đầu tiên của âm nhạc. Rồi những thanh âm đó được sắp xếp theo cung bậc bổng trầm tạo thành giai điệu, mượn những nhịp vỗ, nhịp khoan của tiết tấu dệt thành trương khúc(1), để trở thành một cấu trúc thật hài hòa, chặt chẽ truyền đến người nghe những luồng cảm xúc mang đậm dấu ấn bản thể của người nghệ sĩ đã ra tay sắp đặt… Có những tác phẩm một khi đã được ngân lên bởi đôi dây thanh âm, bỗng như chạm đến nỗi niềm sâu kín nhất…



Nếu như trong hầu hết nhạc tình tiền chiến, tình yêu lứa đôi luôn được đặt trong một khung cảnh lãng mạn, có mùa thu, có lá vàng rơi, có mây giăng cuối trời - như trong nhạc Đoàn Chuẩn, thì "trong thập niên 1958-1968, nhạc tình chỉ còn có “anh” và “em” ta dìu nhau đi trên đường tình"(2), tiêu biểu là nhạc Phạm Duy. Cuối thập niên 50, "có một người phụ nữ đã chạm đến trái tim dạt dào, bao la"(3) của ông, "người phụ nữ đó tuyệt vời như nàng tiên"(4) đã tạo nguồn cảm hứng để ông cho ra đời và mãn khai những bản tình ca vô tận có cái mờ đục của khói suơng, cái tươi tắn của mộng mơ, khi thì hạnh phúc dâng tràn, khi thì buồn thương rầu rĩ. Đỉnh cao của Phạm Duy trong giai đoạn này phải nhắc đến chính là “Kiếp nào có yêu nhau” phổ thơ của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh. Thú thật là thoạt đầu tôi có ý định bình nhạc phẩm này nhưng tự nhiên câu chữ lại cảm thấy bất lực nên phải dông dài đôi chút. Quả thực, bản nhạc không thể tách riêng ra từng phần, bởi nó là một tổng thể hòa quyện, chứa chan những bi thảm, những cảm xúc, những luận lý lả lướt qua cung nhịp, mơn trớn để rồi vút bay trên những đỉnh cao mê mẫn. Mở đầu là tiếng kêu thảng thốt, bẽ bàng của cô gái “đừng nhìn em nữa anh ơi!” bởi “hoa xanh đã phai rồi, hương trinh đã tan rồi…” để rồi những tâm sự, nhớ nhung, lo sợ cứ thế tuôn dâng:

“Đừng nhìn em, đừng nhìn em nữa anh ơi. Đôi mi đã buông xuôi, môi răng đã quên cười...”.

Cảm xúc cứ tiếp nối theo giai điệu, tưởng như mâu thuẫn nhưng lại rất hợp lí, hợp lí trong tâm trạng của người phụ nữ, đắm đuối, mê say pha lẫn tiếc nuối, đợi chờ:

“Hẳn người thôi đã quên ta, trăng thu gẫy đôi bờ, chim bay xứ xa mờ. Gặp người chăng, gặp người chăng, nhắn cho ta. Hoa xanh đã bơ vơ, đêm sâu gối ơ thờ”.

Rồi có một bước chuyển từ tình cảm sang suy tư luận lý, từ những thang bậc cảm tính sang lý trí:

“Kiếp nào có yêu nhau, thì xin tìm đến mai sau. Hoa xanh khi chưa nở, tình xanh khi chưa lo sợ. Bao giờ có yêu nhau, thì xin gạt hết thương đau”.

Nhưng nhạc lại chùn xuống, cảm tính đã thắng lý trí, câu hát tưởng như dồn nén, nghẹn ngào: “Anh đâu anh đâu rồi ? Anh đâu anh đâu rồi”…

“Đừng nhìn nhau nữa anh ơi. Xa nhau đã xa rồi, quên nhau đã quên rồi. Còn nhìn chi, còn nhìn chi nữa anh ơi. Nước mắt đã buông xuôi, theo tiếng hát qua đời…”



Đoạn cuối của bài nhạc là sự dâng lên từ từ nhưng mãnh liệt, của những lo âu, thắc thỏm, cay đắng nhưng dứt khoát, để giữ trong lòng nhau những gì đẹp nhất bởi hoa đã phai, hương đã cạn còn lưu luyến nữa chi? Để rồi, người nghe như vỡ òa những cảm xúc dồn nén đã phát triển xuyên suốt bài bởi một câu nhạc rất tâm đắc của Phạm Duy, ông viết: “Giai điệu của câu đừng nhìn em nữa anh ơi chuyển rất đột ngột, đi từ nốt trầm lên nốt cao nhất với hai nhẩy bực quãng 5 để diễn tả sự tột độ của tình cảm. Cái syncope sau câu đừng nhìn em làm cho mọi người thấy được sự nghẹn ngào của bài thơ và bài hát.”(5)

Phạm Duy đã cho chúng ta thấy tài phù phép của ông qua việc thêm lời, bớt chữ cho những dòng thơ gẫy gọn được nâng cánh uyển chuyển theo những giai điệu bay bổng, vút trầm. Cảm xúc như quyện chặt vào âm thanh, âm điệu vừa khơi nguồn, vừa chuyển biến, dẫn dắt thính giả đi hết bến bờ này đến bến bờ khác trong cái chất trữ tình của yêu đương…

Và… bản nhạc đã tuyệt vời như vậy thì hẳn người trình bày cũng phải được kén chọn một chút để có thể lột tả được hết cái tuyệt diệu cái thần của bài hát. Lúc trước, tôi thưởng thức được một bản trước 75 của nữ ca sĩ T.T thật không chê vào đâu được, chỉ tiếc là phối khí bấy giờ chưa tương xứng với giọng hát. Ngoài ra còn có bản thâu thanh của Tuấn Ngọc, Khánh Hà đều rất đáng nghe. Riêng gần đây, ở Việt Nam có hai giọng ca hạng đầu hát lại bài này: Đức Tuấn, Mỹ Linh. Với Đức Tuấn tôi nghĩ có lẽ cái cảm xúc anh diễn tả chưa đạt, có vẻ gì hơi ngượng nghịu, phải chăng do anh đã ép mình phải thấu được tâm trạng của nữ nhân? Còn Mỹ Linh, có lẽ đã đạt được độ chín của tài năng khi thể hiện nó trong Liveshow Phạm Duy “Con đường tình ta đi”, tôi đã chìm đắm trong cái không gian âm nhạc mà Mỹ Linh đã mở toang…

Để kết cho bài viết xin khẳng định rằng âm nhạc chính là thứ vi diệu nhất do con người sáng tạo ra để xoa dịu đi những nỗi đau, ve vuốt những cảm xúc và “Kiếp nào có yêu nhau” mang đến một sự toàn bích cao siêu ẩn trong sự gẫy gọn của những đồ rê mí. Bài hát chính là đỉnh cao của nhạc tình Phạm Duy.


Khắc Huy
(1): Nhạc sĩ Vĩnh Lạc, Hát cho tuổi thơ 2.
(2),(5) và trích đoạn nhạc: trích trong hồi kí của Nhạc sĩ Phạm Duy.
(3), (4): Tạ Tỵ, "Phạm Duy còn đó nổi buồn", NxB văn học sử, 1971.


---------------------------




Thứ tư, ngày 08 tháng bảy năm 2009

Ám ảnh đàn ông


Chờ mãi mà tôi chẳng thấy báo nào review cuốn " Mặt của đàn ông" ngoại trừ một vài blog viết sơ sơ hú họa. Không thể hiểu nổi tại sao một cuốn sách hay như thế lại bị các báo bỏ qua. Chắc là do PR chưa tới. Vậy thì tôi PR cho nó một chút. Tôi làm điều này vì tôi cảm thấy đàn ông ngày nay đang bị đối xử một cách tàn nhẫn v
à bất nhơn. Hầu hết bọn họ đã không được dạy dỗ tử tế lúc còn trẻ nên khi trưởng thành họ bỗng hoang mang trở nên lung tung rắc rối phức tạp. " Bọn họ sâu sắc nhớ nhiều chuyện không đáng nhớ và sâu sắc quên nhiều chuyện không đáng quên. Đàn ông thời thượng của ngày nay thường luôn tự nhớ, mình đang là đẹp trai, đang là có tài, có nhan nhản nhân văn nhân hậu". Đó gần như không phải là lỗi của họ. Xã hội càng văn minh phát triển rực rỡ tiến bộ bao nhiêu thì đàn ông càng thoái bộ bấy nhiêu. Phàm ở đời, kẻ không biết thì không có tội nên bọn họ ắt có lẽ hẳn là đáng thương hơn đáng trách.

Đây là một cuốn tạp văn. Vì là tạp văn nên nó vô chừng và bất chợt kiểu như đàn ông đọc sách, xem bói, coi phong thủy, đi nhậu hay lâu lâu quởn lên ăn chay cúng kiếng gì đó. Đôi khi viết cái gì lại không có ý nghĩa bằng viết như thế nào. Viết làm cho người đọc say mê thích thú, miệng cười toe toét mà thấy nhoi nhói ở tim chắc chỉ có Nguyễn Việt Hà. Đàn ông trong truyện hầu hết đều không có mặt, có thể là do họ bị "mất mặt" hoặc không dám lộ diện nhưng chung quy họ vẫn mang bản chất và vai trò của đàn ông, ấy là làm chồng, làm cha, làm con của một ai đó. Mỗi bài viết phản ánh một phần cuộc sống của đàn ông dưới góc nhìn của người trong cuộc nên không thể tránh khỏi có những lúc tự trào đại loại chẳng hạn: "Thời bao cấp quý nhất là lấy được vợ làm nghề bán gạo hoặc bán thực phẩm, nhưng sang nhất là yêu được một cô bán bia. Hàng bia là nơi quần long tụ hội, quần ngư tranh thực, quần chúng tranh ẩm."

Nói chung sách hay. Viết nhiều sẽ thành rườm lời. Chỉ có một lưu ý nhỏ: chống chỉ định đối với thiếu nữ đang loay hoay lớn và thiếu phụ đẫm đầy đức hạnh.

Cô chủ quán xinh đẹp.

------------------------------


Thứ sáu, ngày 03 tháng bảy năm 2009

Một thoáng Sapa

Tôi đến Sapa vào một ngày mùa Hạ, khi nắng vàng đang rải tung tóe lên khắp thung lũng ruộng bậc thang. Sapa đang vào mùa cấy...

1.


2.


... Và tôi đã bị mê hoặc trước phong cảnh tuyệt vời nơi đây. Cả con người nữa, hiền hòa, chân chất, cần cù...

3.


4.


5.


6.


7.


8.


Một buổi chiều leo lên núi Hàm Rồng, phóng tầm mắt ôm trọn cả thị trấn. Không rộng lớn, náo nhiệt như Đà Lạt, Sapa mang một vẻ trầm tư, vừa cổ kính, vừa hiện đại...

9.


10.


Ngôi nhà thờ ở trung tâm thị trấn gợi cho tôi một nỗi niềm hoài cổ....

11.


12.


13.


14.


Dưới đây là hai khoảng khắc làm tôi thích thú nhất, đứng trên Cổng trời của Hàm Rồng, nhìn về dãy Hoàng Liên Sơn, bất chợt nhớ đến một truyện ngắn của chị Nguyễn Ngọc Tư: " Sầu trên đỉnh Puvan" và tôi đã đặt tên cho bức ảnh số 15 này là "Sầu trên đỉnh Hàm Rồng...."

15.


... Dãy Hoàng Liên Sơm kì vĩ ẩn trong những khối mây trắng chập chùng...
16.
Click vào ảnh để xem cỡ lớn

--------------------
Hình ảnh được chụp bởi quán chủ. Ngày 25 và 26 tháng 05 năm 2009. Camera Model: Canon Ixus 95IS



Thứ ba, ngày 30 tháng sáu năm 2009

Mấy lời bàn về nghệ thuật của Văn Cao qua hai nhạc khúc Thiên Thai và Trương Chi (*)


“Văn Cao là trời cho…” - Trong lời tựa quyển “Văn Cao cuối cùng và còn lại”, Nguyễn Thụy Kha đã viết như vậy. Văn Cao sinh ra là để hiến dâng cho nghệ thuật, chìm đắm vào nghệ thuật, đau khổ chua cay vì nghệ thuật trong nổi thăng trầm của loạn ly, chia cắt và những tư tưởng điên đảo, cực đoan. Biển cả quê hương đã hun đúc cho Văn Cao một tâm hồn rộng lớn, mênh mông, luôn chan chứa những khát vọng về cái mới, cái đẹp thoát tục nhưng vẫn hiển hiện và lẩn khuất nơi trần thế.



Văn Cao đến với tôi đầu tiên là một Văn Cao của trữ tình, thơ mộng với hai nhạc khúc vừa ngát giọng đất trời vừa vương vấn nỗi âu sầu dương thế, có khi vút bay trên những đỉnh cao mê mẫn, lại có lúc chìm sâu trong đáy hồ đau khổ nhưng chứa đầy những quan điểm về nghệ thuật: Thiên Thai, Trương Chi. Nhạc của Văn Cao lạ, là bởi trong nhạc lại có nhạc, dẫn dắt cái “tâm nghe” vượt hết bến bờ này đến bến bờ khác giữa một không gian mênh mông, dìu dặt tiếng tơ rung. Cuộc đời ư? Kiếp người ư? Phải chăng cũng chỉ là một khúc nhạc dạo lên bởi tạo hóa từ những nốt khắc trên khuông kẻ chằng chịt của duyên và nợ? Và nghệ thuật liệu có làm cho khúc nhạc đó réo rắt, vui say?

Trong tâm hồn của chàng Văn mười tám tuổi đã mơ một cõi thinh không mà thanh âm của đất trời hòa quyện vào thanh âm của con người hay nói đúng hơn, cõi của con người, đất trời quyện chặt.

“Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên…”

Đó là một cõi âm thanh huyền diệu của cái “tâm nghe”. Không có cảnh vật, không có khe, có động, không có cây, có lá, chỉ có tiếng sóng, tiếng gió lơi lả cùng cung bậc bổng trầm bật rung từ những dây tơ vô hình. Nhưng trong cái “nghe” mơ hồ đó, hồn ta như cảm
được “Xanh ngắt màu cây lẫn sắc trời – Mịt mù khói tỏa nẻo xa khơi - Bóng mây đầy núi chim khôn đậu -Tiếng nước quanh khe sáo giục hồi”(1). Thiên thai phải chăng là cõi của nghệ thuật?

"Âm ba, thóang rung cánh Đào rơi
Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan,
Quê hương dần xa lấp núi ngàn..”

Vẫn những thanh âm của con người vun vút bay xa trong bảng lảng khói sương mờ phủ, nửa hư, nửa thực, khiến cành đào cũng hòa điệu mà rơi rụng, rắc cánh đón chào tao nhân dấn bước theo nước ngọc tuyền. Ta như hóa thành chàng Lưu, hay chàng Nguyễn (cũng có thể là c
hàng Văn) giũ đi bụi trần ai, đoạn tuyệt với thế nhân mà lướt trôi vào cõi huyền diệu, cõi của mê đắm, của sáng tạo và của nghệ thuật tuyệt đối hoan lạc. Hồn ta không còn đứng bên lề nữa mà đã dạm vào “Thiên Thai”. Tiếng đàn, tiếng ca lại cất lên, vẫn chỉ có nhạc, hình ảnh người – tiên như nhập nhòe trong bóng trăng soi, đâu là mộng, đâu là thực, hay tất cả cũng chỉ là mộng ta cũng không rõ nữa, chỉ biết rằng ôi ta đã để đời rơi lại bên tai. Nhạc ở đoạn này đậm chất gì của núi non, của rừng thẳm, chập chùng trong tiếng cồng, tiếng chiêng, cuối cùng đọng lại cả một nỗi niềm khao khát…



"Thiên Thai,
Chốn đây hoa Xuân chưa gặp bướm trần gian
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn quá một lần
Thiên tiên,
Chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm
Khúc Nghê Thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn…
…Đàn soi trăng lên, nhạc lắng tiếng quyên
…là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên, đàn khao khát khúc tình duyên..”

Cung điệu chuyển biến, đê mê trong cơn khát khao được giải tỏa bởi cuộc ân ái mê cuồng giữa tiên nữ và phàm nhân trong mơ màng, thơ mộng của dải ánh trăng chảy vàng trên cảnh vật, ta đã đ
ến tột đỉnh của “Thiên thai”…

"Thiên Thai,
Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trên gian
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần…”

Ở cõi nghệ thuật, tất cả đều bình đẳng đắm vào cung điệu của cảm xúc. Nhưng trong cái toàn mỹ thấp thoáng, có khi nhập nhoạng những vụn vặt trần tục:

"Gió hắt trầm tiếng ca
Tiếng phách ròn lắng xa…
Nhớ quê chiều nào xa khơi
Chắc không đường về tiên nữ ơi…"

Và tiên nữ phải đành “bên suối ngẩn ngơ buồn vĩnh biệ
t”(2), “rêu ngàn non quạnh bóng trăng soi”(3)… Điệp khúc được lặp lại, khi Văn Cao dẫn ta theo con đường tìm lại thiên thai của hai chàng Lưu-Nguyễn. Đào nguyên biến mất, chỉ còn rền vang tiếng hát từ xa xăm vọng lại, có chút hụt hẫng, nuối tiếc, chơi vơi, giật mình không rõ ta đang ở chốn nào giữa muôn trùng của “sắc” và “không”... “Xuân lai biến thị Đào hoa thủy / Bất biện tiên nguyên hà xứ tầm”- “Xuân về đây đó hoa và suối / Nhưng suối tiên đâu tìm chốn nào?” (4) Cảnh đã mất rồi, tiên nữ cũng không còn, cõi mơ vụt tan, nhạc chùng xuống, ta xao xuyến nhưng hình như còn nghe tiếng đàn ca trong cõi xa xăm nào đó…

"Gió hắt trầm tiếng ca
Tiếng phách ròn lắng xa,
Nhắc chi ngày xưa đó đền se buồn lòng ta…
… Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao
Những khi chiều tà trăng lên,
Tiếng ca còn rền vang cõi tiên…"

“Người sông Ngự” - Văn Cao viết bài nhạc này như một bản trường ca, khác hẳn với phong cách sáng tác của thuở đầu tân nhạc Việt
nam là theo những đoản khúc khuôn mẫu. Bản nhạc như phảng phất cái không khí của Đường thi trong khung cảnh truyện cổ về Lưu Thần – Nguyễn Triệu. Hồn ta có thể “nghe” cả trời Thiên thai trên bước đường Lưu – Nguyễn nhưng cái “thấy” thì sao mơ hồ quá. Những hình ảnh đều lẩn khuất trong sương khói huyền hoặc của âm thanh đắm say, hay tất cả cũng chỉ là mộng, cõi mộng riêng của Văn Cao. Ôi, “hồn nghe” như chạm ngõ vào một khu vườn cấm, tưởng chừng như đã mở khóa để bước vào, tưởng chừng như đã thấu được nhưng sao vẫn cảm thấy mơ hồ, mông lung quá! Bởi Văn Cao đã mơ, mơ đến một khung trời nghệ thuật tự do, phóng khoáng, có lúc tưởng chừng như đã đạt được… Nhưng ông đã mơ cả đời vậy!

Bước sang tuổi 18 “Người sông Ngự” đã dấn bước trên đường hành hương tìm đến một cõi thiên thai ẩn chứa những cái mới, cái tuyệt đối, cái sáng tạo đầy hứa hẹn. Cái dáng người mỏng manh, liêu xiêu, tưởng chừng như chỉ một cơn gió mạnh là bị hất tung lên đã hùng dũng, bước những bước đi chắc nịch trên con đường nghệ thuật. Nhưng lộ trình tìm dền chân – thiện – mỹ của Văn Cao quả thực có quá nhiều chua cay đền độ tiếng hát của ông nghẹn ứ trong một thời gian dài dằng dặc như tiếng hát chàng Trương Chi im bặt trên khúc sông cổ tích ngày xưa. 20 tuổi, chàng Văn cho ra đời tuyệt tác “Trương Chi”, liệu đó có phải là một dự cảm sau này về cuộc đời nghệ thuật lắm truân chuyên?

“Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ
Trầm trầm không gian mới rung thành tơ
Vương vất heo may hoa yến mong chờ
Ôi, tiếng cầm ca thu tới bao giờ.

Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang,
Chập chùng đêm khuya thức ai phòng loan
Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng
Đây đó từng song the hé đợi đàn.”




Lời mở đầu cho nhạc khúc Trương Chi như vẽ lên bức tranh của trần gian cổ tích đậm chất thơ bằng nét cọ của “tiếng cầm ca”. Giữa sắc thu vàng, giai điệu trầm trầm tơ rung chập chùng len theo mây gió làm chao đôi cánh nhạn rồi len lỏi vào cõi lòng bơ vơ cho bật lên cái tâm thao thức, khắc khoải. Nghệ thuật là vậy đó, nó khiến người ta chìm đắm, mê mẩn để rồi mường tượng, khát khao, mong chờ… Đã có lúc, người ta đã qui nghệ thuật thành một cái chung chung, bình dân, cứ ngỡ rằng nghệ thuật gắn liền với thực tế đặt trong một bối cảnh tư tưởng chủ quan, của môt số cá nhân cứ ngỡ đã nhân danh quần chúng là chân nghệ thuật. Nghệ thuật đó chỉ là tiếng hót của con chim phải học hót trong lồng. Nhưng thực tế đã chứng mình rằng thứ nghệ thuât này đã làm câm lặng, thui chột, tắc tị biết bao tài năng. Nghệ thuật cần những đồng cảm từ những đối tượng nhất định, có cái tâm thưởng thức nhất định. Trở lại ca khúc Trương Chi, với Văn Cao, đối tượng cùa nghệ thuật có sự diễm lệ của thăng hoa, giống như khi trăng đã vằng vặc thì phải có mây gió, lá hoa cùng lả nhịp:

“Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân
hò khoan mơ bóng con đò trôi
giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời”
Và giai nhân đã phải thốt lên rằng:
“Khoan khoan đò ơi! tương tư tiếng ca
Chàng Trương chi cất lên hò khoan,
đêm thu dài đến khoan tiếng nhạc ơi!
Nhạc ơi thôi đàn.”

Mặc dù vậy, không phải người nghệ sĩ nào cũng được có được sự thấu hiểu, nghệ thuật được tạo ra đôi khi vẫn mang một hình thù khác người như cái dáng vẻ xấu xí của chàng Trương Chi, khiến cho người ta tàn nhẫn xa lánh tuy rằng nó đã từng nâng những cảm xúc lên dạt dào mĩ cảm. Văn Cao cùng tác phẩm của ông cũng vậy, có lúc nó bị vứt bỏ, bị phủ nhận, cố tình quên lãng, để lại trong ông nỗi rưng rức, nuối tiếc đến chạnh lòng. Thật não nùng khi ly biệt những cái m
ình đã tin, đã yêu say đắm, đã rút tinh hoa mà kiến tạo.

“Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung, Anh thương nhớ,
Oán trách cuộc từ ly não nùng.

Đò trăng cắm giữa sông vắng
Gió đưa câu ca về đâu?
Nhìn xuống đáy nước sông sâu
Thuyền anh đã chìm đâu !”

Ừ, thì con thuyền Trương Chi đã chìm sâu đáy nước. H
ình ảnh này ám ảnh Văn Cao và sau dó cũng ám váo đời của ông. Con thuyền nghệ thuật của Văn Cao có lúc phải cột lại trong cái ầm ào của sóng cả tư tưởng cực đoan, bó hẹp. Anh Trương Chi mang đến cho cuộc đời tiếng hát, làm mê đắm lòng Mỵ Nương nhưng vì vẻ ngoài xấu xí mà người đẹp từ chối tấm chân tình của người chèo đò. Đời là vậy, cái đẹp chân thực không phải bao giờ cũng trong vỏ bọc mĩ miều, đôi lúc đó bị nhầm lẫn, bị hắt hủi đến tội nghiệp! Tiếng hát chàng Trương chỉ còn là những âm thanh đắng cay còn vang vọng bên bờ lau lách, chỉ còn là nỗi uất nghẹn chìm sâu…

“Thương khúc nhạc xa vời
Trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi.
Sương thu vừa buông xuống
Bóng cây ven bờ xa mờ xóa giòng sông
Ai qua bến giang đầu tha thiết,
Nghe sông than mối tình Trương Chi
Dâng úa trăng khi về khuya,
Bao tiếng ca ru mùa thu.”


Nghe đoạn nhạc này, ta không khỏi giật mình! Văn Cao đang khóc thương cho nghệ thuật của mình, nghệ thuật của những người bị con mắt hạn chế của thời thế đè nén, bóp nghẹt! Ông hoàng ơi, sao ông đã sớm nhỏ lệ cho chình mình, phải chăng ông đã có những dự cảm về cuộc đời? Câu nhạc quá não nề, mang một vẻ sầu thương, buồn thảm. Cũng sương khói đó, cũng ánh trăng đó nhưng sao không có cái bảng lảng, thơ mộng của Thiên Thai, mà chỉ hiện lên cái mờ đục của tàn phai, buông thõng, trăng đang rơi lệ! Ta như cảm được tiếng mưa rơi trong từng nốt nhạc, chợt rùng mình như có ai đang than khóc cùng mưa gió, hồn chàng Trương đã về? Hay hồn nghệ thuật đang đòi lại sự nhìn nhận công bằng? Cổ tích xưa đã cho một cái kết có hậu, Mỵ nương rơi lệ trước khối tình Trương Chi như một sự ân hận, nhưng ở đây Văn Cao tàn nhẫn quá, còn thuyền Trương Chi của ông đã chìm sâu chỉ còn bàng lảng bóng người vất vưởng trong gió mưa:

“Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn
Còn nghe như ai nức nở và than,
Trầm vút tiếng gió mưa
Cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng?...
…Cùng với tiếng gió vương,
Nhìn thấy ngấn nước lấp lánh in bóng đò xưa…
Đò ơi! đêm nay dòng sông Thương dâng cao
Mà ai hát dưới trăng ngà
Ngồi đây ta gõ ván thuyền,
Ta ca trái đất còn riêng ta…”
Văn Cao, cả một đời vị nghệ thuật, nếm trải đầy những cay đắng của thời cuộc. Đã có lúc người ta muốn thay thế bài Quốc ca của ông. Đã có lúc tưởng chừng như ông đang cô độc trong con đường tìm kiếm Thiên Thai của nghệ thuật, “ta ca trái đất còn riêng ta”. Và đã có lúc ông phải hét lên rằng: “Đâu bóng thuyền Trương Chi”. Nhưng chắc chắn lửa nghệ thuật trong ông không bao giờ thôi ngùn ngụt, mùa xuân năm 76, Văn Cao cho ra đời nhạc khúc “Mùa Xuân Đầu tiên” trong niềm hoan ca của đất nước thanh bình, hi vọng một sự thay đổi, cởi mở hơn, mang tính nhân văn hơn trong những định hướng dành cho nghệ thuật. Đối với ông nghệ thuật là lẽ sống, là tinh hoa của cuộc đời, là máu thịt của ông. Chàng Trương Chi của ông đã vượt qua tất cả những cay nghiệt để chứng minh một chân lý đó là nghệ thuât đích thực không bao giờ bị lãng quên, bị phủ nhận. Nghệ thuật luôn khắc sâu vào nhân sinh, nhân bản, nó sẽ mãi tồn tại cho dù có bị khoác cho cái hình hài xấu xí, kì dị. Những rung cảm thực sự luôn tìm được sự đồng cảm chân thành. Văn Cao, cái tên vẫn sẽ được thế hệ sau nhắc đến bởi những mở đường của ông trong ba lĩnh vực thơ, nhạc, họa. “Người ta yêu Văn Cao vì yêu những người cố mở đường mà thất bại, và cũng vì yêu những người biết thất bại mà dám mở đường”(5). Những trăn trở, đau đáu về nghệ thuật của ông cũng để lại cho chúng ta nhiều bài học. Nghệ thuật gắn liền với dân sinh, mang tính nhân bản và phải được sáng tạo bằng cái tôi tự do tuyệt đối của người nghệ sĩ. Và người nghệ sĩ thì “…có người nói thẳng tới cái vô cùng tận của trời xanh, có người nói cái vô cùng tận của trời xanh qua cái rộng của biển, cũng có người thấy trời xanh vô cùng tận trong bát nước và cũng có người chỉ nói tới một giọt ánh sáng để tìm thấy cái vô cùng tận của trời xanh. Có người phải tìm con đường lớn mới thấy dấu xe mà có người tìm thấy dấu xe trong một hạt bụi…” (6), đó đều là những người nghệ sĩ tự do thăng hoa. Có thể xem đây là mong ước từ cõi lòng của Văn Cao – nghệ sĩ hay minh triết về nghệ thuật của Văn Cao – người mở đường cũng được. Xin mượn mấy lời sau để kết cho bài viết này: “Tiếng hát Văn Cao, khiếm diện, âm thầm, vang trong tiềm thức, sống âm ỉ trong nội tâm của mỗi chúng ta… Văn Cao là nghị lực tiềm ẩn, là sự bất khuất nghẹn ngào chìm đắm trong ta, là khí phách ngậm ngùi chờ ta ở một vùng bồng lai tiên cảnh.”(7)

Trại sáng tác Tam Đảo, 29/05/2009
Khắc Huy.
---------------
(*) Trích dẫn hai bản nhạc trong bài dựa theo tập“Nhạc tiền chiến” – Kẻ Sĩ xuất bản, Saigon 1970.
(1),(2),(3): “Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai” – Tào Đường, bản dịch của Ngô Tất Tố, Khương Hữu Dụng, Ngân Bích.
(4): “Đào Nguyên Hành” – Vương Duy, bản dịch của Vũ Thế Ngọc.
(5), (7): “Văn Cao - Phạm Duy: Trần Gian và Tiên Cảnh”, Nguyễn Thụy Khuê.
(6): “Mấy ý nghĩ về thơ”, Văn Cao.